Mục đích phân tích Báo cáo tài chính (Soi Báo cáo tài chính) trong việc đầu tư chứng khoán là để đánh giá tình hình sức khỏe của doanh nghiệp đó tốt hay xấu, nếu doanh nghiệp đó có sức khỏe tốt thì liệu có tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ trong tương lai hay không, mức định giá cổ phiếu đó ở thời điểm hiện tại còn hấp dẫn so với xu hướng uptrend/downtrend/sideway của thị trường không? Còn nếu doanh nghiệp đó có sức khỏe xấu thì thuộc loại nào (loại doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh cốt lõi mang tính chất chu kỳ cao, loại doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, loại doanh nghiệp có nhiều tài sản ảo .v.v.) thì liệu có cơ hội đầu tư hấp dẫn hoặc điểm sáng le lói nào để đầu tư hay không, mức định giá cổ phiếu đó ở thời điểm hiện tại có ảo không?
Báo cáo tài chính được chia làm 4 (bốn) phần không tách rời nhau (gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh Báo cáo tài chính), mỗi phần đều có vai trò, công dụng nhất định, vì vậy nhà đầu tư khi phân tích Báo cáo tài chính không được xem nhẹ bất kì phần nào để đảm bảo đánh giá dữ liệu một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc về doanh nghiệp.
Chủ đề của bài viết này là "Chia sẻ kinh nghiệm về cách phân tích Báo cáo tài chính theo góc nhìn của một nhà đầu tư thực thụ", như chúng ta đều biết trong công việc liên quan đến Báo cáo tài chính có nhiều nghề khác nhau, mỗi nghề lại có một cách tiếp cận và nhằm mục đích khác nhau, ví dụ nghề Kiểm toán là xác minh tính trung thực, hợp lý và độ tin cậy của thông tin tài chính, nghề Kế toán là thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin tài chính, nghề Giảng viên dạy kế toán là người truyền đạt kiến thức, kỹ năng lý thuyết và thực hành nghiệp vụ kế toán, thuế và phần mền kế toán cho học viên tại các Trường học, Trung tâm đào tạo hoặc Doanh nghiệp, các nhà quản trị điều hành doanh nghiệp quan tâm nhiều đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), hệ số đòn bẩy tài chính (tổng tài sản/vốn chủ sở hữu), cơ cấu chi phí, biên lợi nhuận gộp, biên lợi nhuận ròng, dòng tiền tự do để rồi từ đó giúp họ đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến cơ chế chính sách, chiến lược kinh doanh phù hợp hiệu quả, các nhà tín dụng (ngân hàng/công ty tài chính) cho doanh nghiệp vay tiền thì họ quan tâm nhiều đến các chỉ số lợi nhuận, dòng tiền, khả năng thanh toán nợ đến hạn, tài sản bảo đảm .v.v. Còn với vị trí là một nhà đầu tư thực thụ thì mục đích soi Báo cáo tài chính là để nhận diện doanh nghiệp tốt - xấu (gồm sức khỏe tài chính và đạo đức của Ban lãnh đạo) và tìm kiếm cơ hội đầu tư hấp dẫn.
Sau đây, Bắc Cao Minh sẽ đi sâu phân tích từng phần của Báo cáo tài chính và lấy thí dụ làm minh chứng.
1) BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN: Phản ánh toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ những nguồn vốn nào (nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay ngân hàng, nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu, nguồn vốn đến từ khách hàng trả tiền trước/doanh thu chưa thực hiện, nguồn vốn đến từ đối tác/nhà cung cấp) theo nguyên tắc Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn, thứ tự sắp xếp các loại tài sản trên Bảng cân đối kế toán theo mức độ thanh khoản giảm dần có nghĩa là tài sản có thanh khoản cao sẽ xếp lên trên, tài sản có thanh khoản thấp sẽ xếp xuống dưới, việc quan trọng đầu tiên cần làm của nhà đầu tư là phải xác định rõ các loại tài sản có tỷ trọng đáng kể so với tổng tài sản và tập trung phân tích kỹ lưỡng các loại tài sản đó để đánh giá tính hữu dụng của nó trong việc tạo ra lợi nhuận thực cho doanh nghiệp, việc tiếp theo là xem xét tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu, tỷ lệ tài sản ngắn hạn/nợ phải trả ngắn hạn, tỷ lệ tài sản dài hạn/vốn chủ sở hữu + nợ dài hạn để đánh giá cấu trúc vốn có an toàn, vững chãi không?
Nếu doanh nghiệp sở hữu tài sản hữu dụng là chủ yếu, cấu trúc vốn an toàn vững chãi thì bước tiếp theo nhà đầu tư cần xác định rõ và phân tích kỹ lưỡng yếu tố trọng yếu nào có chuyển biến/thay đổi tích cực để tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ về doanh thu và lợi nhuận trong tương lai, chẳng hạn như khoản mục Tài sản cố định tăng mạnh so với các quý trước, khoản mục Tài sản dở dang dài hạn tăng mạnh so với các quý trước, khoản mục Người mua trả tiền trước ngắn hạn/doanh thu chưa thực hiện tăng mạnh so với các quý trước .v.v.
Nếu doanh nghiệp sở hữu tài sản kém hữu dụng hoặc tài sản ảo là chủ yếu thì đánh giá mức độ rủi ro hoặc gạch tên khỏi Danh sách tầm soát doanh nghiệp tiềm năng.
Một số dấu hiệu điển hình của những doanh nghiệp tệ hại được nhận diện thông qua Bảng cân đối kế toán như sau:
- Một là, các khoản phải thu ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá lớn so với tổng tài sản (Dấu hiệu này thường xảy ra 3 trường hợp: 1) Doanh nghiệp bán được hàng nhưng không thu được tiền dẫn tới tình trạng nợ đọng kéo dài; 2) Ban lãnh đạo tư lợi rút ruột tiền của cổ đông thông qua chiêu bài đầu tư vào doanh nghiệp sân sau của họ; 3) Thủ thuật book lợi nhuận ảo để bơm thổi giá cổ phiếu nhằm lùa gà úp sọt cổ đông).
- Hai là, tài sản ngắn hạn so với các khoản nợ phải trả ngắn hạn có hệ số quá thấp.
- Ba là, sử dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính quá cao so với vốn chủ sở hữu trong khi doanh nghiệp sở hữu tài sản kém hữu dụng hoặc tài sản ảo là chủ yếu.
- Bốn là, giá trị tài sản dài hạn cao hơn giá trị vốn chủ sở hữu + nợ dài hạn, điều này nó phản ánh doanh nghiệp đang sử dụng một phần của nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư cho tài sản dài hạn làm mất cân đối vốn và hệ lụy thường dẫn đến tình trạng mất thanh khoản hoặc rơi vào vòng xoáy phải đi vay mượn khắp nơi để bổ sung vốn lưu động.
2) BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH: Phản ánh kết quả doanh thu và lợi nhuận/lỗ của doanh nghiệp theo quý/năm, các loại doanh thu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sắp xếp theo mức độ quan trọng của từng loại doanh thu (sắp xếp theo thứ tự như sau: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu tài chính, thu nhập khác). Việc quan trọng nhất của nhà đầu tư là xem xét lược bớt/loại bỏ những loại doanh thu không đáng tin cậy liên quan đến doanh thu tài chính/thu nhập khác để đánh giá chính xác chất lượng doanh thu và lợi nhuận.
Biên lợi nhuận gộp đến từ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng, thông qua chỉ số này giúp nhà đầu tư đánh giá được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó so với các doanh nghiệp khác cùng ngành, lợi thế cạnh tranh chính là con hào kinh tế được ví như là một cỗ máy in tiền, nhất là những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững giúp họ đứng vững trước đối thủ và duy trì lợi nhuận trong nhiều năm. Thí dụ 1 Biên lợi nhuận gộp của Tập đoàn Hòa Phát bình quân đạt gần 20% là mức cao vượt trội so với các doanh nghiệp khác trong ngành thép cho thấy lợi thế cạnh tranh bền vững của Tập đoàn Hòa Phát, Thí dụ 2 Biên lợi nhuận gộp bình quân của Tập đoàn Vinamilk trên 40% là mức cao vượt trội so với các doanh nghiệp khác trong ngành sữa cho thấy lợi thế cạnh tranh bền vững của Tập đoàn Vinamilk .v.v.
Biên lợi nhuận ròng có ý nghĩa rất quan trọng, chỉ số này giúp nhà đầu tư đánh giá về năng lực quản trị điều hành doanh nghiệp trong việc tối ưu hóa chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phi bán hàng và chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm.
Lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp) không chỉ phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn kiểm chứng lời nói có đi đôi với hành động của Ban lãnh đạo doanh nghiệp hay không thông qua kế hoạch kinh doanh được họ đề ra từ đầu năm so với kết quả kinh doanh thực tế đạt được tại thời điểm cuối năm.
Thu nhập ròng trên mỗi cổ phiếu là số liệu rất quan trọng cho thấy khả năng sinh lời trên mỗi cổ phiếu, là cơ sở để nhà đầu tư định giá cổ phiếu đó đắt hay rẻ theo phương pháp P/E và PEG.
3) BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ: Phản ánh tương đối chính xác dòng tiền vào và dòng tiền ra trong kỳ của doanh nghiệp, căn cứ theo mục đích và mức độ quan trọng của dòng tiền được phân ra làm 3 loại theo thứ tự như sau: Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư, Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính.
- Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh thường là con số dương được đánh giá là tốt, nó phản ánh doanh nghiệp bán được hàng và thu được tiền tươi thóc thật, hạn chế tối đa tình trạng nợ đọng kéo dài của khách hàng, từ đó giúp doanh nghiệp ít phải phụ thuộc vào nguồn vốn vay để đảm bảo vốn lưu động và hoạt động đầu tư kinh doanh, tuy nhiên không phải mọi trường hợp dòng tiền âm đều không tốt, thí dụ doanh nghiệp phát triển bất động sản tích cực gom quỹ đất giá rẻ bằng dòng tiền đến từ hoạt động kinh doanh dẫn tới dòng tiền âm nhưng hàng tồn kho lại tăng mạnh.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư thường là con số âm được đánh giá là tích cực hơn vì nó phản ánh doanh nghiệp đang trong giai đoạn mở rộng hoạt động đầu tư nhằm tạo động lực tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận trong tương lai, tuy nhiên không phải lúc nào doanh nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư cũng là tích cực, điều quan trọng nhất là nhà đầu tư phải biết đánh giá kỹ lưỡng tính hiệu quả của mỗi thương vụ đầu tư đó như thế nào? Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp có đảm bảo tính thực thi không? .v.v.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính (đặc điểm của dòng tiền này là làm thay đổi vốn chủ và/hoặc vốn vay) thường là con số âm được đánh giá là tốt vì nó phản ánh doanh nghiệp thường xuyên chi trả cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông.
4) THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH: Được ví như một cuốn từ điển giải mã các con số trên Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, vì vậy nhà đầu tư không nên xem nhẹ Thuyết minh Báo cáo tài chính.
Ví dụ để nắm bắt thông tin chi tiết về Hàng tồn kho có những dạng gì như nguyên vật liệu, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thành phẩm, bán thành phẩm .v.v. thì xem phần Thuyết minh Báo cáo tài chính là sẽ rõ.
Ví dụ để nắm bắt thông tin chi tiết về các khoản công nợ của khách hàng là những ai, phải thu khác từ những đối tượng nào thì xem phần Thuyết minh Báo cáo tài chính là sẽ rõ.
Ví dụ để nắm bắt thông tin chi tiết về việc doanh nghiệp đang vay nợ ở những ngân hàng nào, trị giá bao nhiêu, thời gian bao lâu, lãi suất bao nhiêu thì xem phần Thuyết minh Báo cáo tài chính là sẽ rõ.
Ví dụ để nắm bắt thông tin chi tiết về tỷ lệ % của từng loại sản phẩm và dịch vụ cụ thể trong tổng cơ cấu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp thì xem phần Thuyết minh Báo cáo tài chính là sẽ rõ.
* LƯU Ý: Nhà đầu tư phải xem xét Báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán, chú ý Phần ý kiến của Kiểm toán viên.